Một văn bản thay thế, không phải một lần sửa đổi
Ngày 15/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Nghị định gồm 6 chương, 68 điều, có hiệu lực từ ngày 10/9/2026 và thay thế Nghị định 12/2022/NĐ-CP kể từ thời điểm này.
Điểm đáng lưu ý: đây không phải một nghị định sửa đổi bổ sung mà là văn bản thay thế toàn bộ. Các tài liệu nội bộ, checklist tự đánh giá hay tài liệu đào tạo còn đang viện dẫn số điều của Nghị định 12/2022 đều cần được rà soát lại theo cấu trúc điều khoản mới.
Nghị định cũng mở rộng phạm vi điều chỉnh sang lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động và tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, đồng thời bổ sung quy định về xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử theo Điều 18a Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Ba nguyên tắc xử lý vi phạm
Thứ nhất, mức phạt tăng theo quy mô lao động bị ảnh hưởng. Nhiều điều khoản trọng yếu với ngành may — tiền lương, làm thêm giờ, bảo hộ lao động, huấn luyện an toàn — được chia bậc theo số người lao động bị vi phạm, bậc cao nhất áp dụng từ 301 người trở lên. Với nhà máy quy mô vài trăm đến vài nghìn lao động, một hành vi vi phạm mang tính hệ thống gần như luôn rơi vào bậc cao nhất.
Thứ hai, xử phạt về từng hành vi khi vi phạm nhiều lần. Khoản 4 Điều 7 quy định tổ chức, cá nhân thực hiện vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ một số trường hợp về đóng bảo hiểm được xử lý theo hướng gộp và áp dụng tình tiết tăng nặng. Một kết luận thanh tra có nhiều nhóm phát hiện vì vậy tạo ra nhiều quyết định xử phạt độc lập.
Thứ ba, tiền phạt chỉ là một phần. Bên cạnh phạt tiền, Nghị định quy định hình thức xử phạt bổ sung (tịch thu tang vật, tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời hạn, trục xuất) và một hệ thống biện pháp khắc phục hậu quả rất cụ thể: buộc trả đủ tiền lương cộng lãi suất, buộc nhận lại người lao động, buộc tổ chức khám sức khỏe, buộc trả khoản bồi dưỡng bằng hiện vật quy thành tiền. Với hầu hết nhóm lỗi, chi phí khắc phục hậu quả lớn hơn nhiều lần khoản tiền phạt.
Nhóm 1 — Thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi
Đây là nhóm vi phạm thường thấy nhất qua các kỳ đánh giá nhà máy may tại Việt Nam, đặc biệt ở hai chỉ tiêu giới hạn làm thêm giờ theo tháng và theo năm. Đây cũng là nhóm được Nghị định 283 quy định với khung phạt chia bậc theo số lao động, nghĩa là mức độ nghiêm trọng tăng theo quy mô nhà máy.
| Hành vi | Căn cứ | Khung phạt với doanh nghiệp |
|---|---|---|
| Huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá số giờ theo quy định; không bảo đảm nghỉ trong giờ làm việc hoặc nghỉ chuyển ca | Khoản 4 Điều 24 | 10–20 triệu (01–10 NLĐ) · 20–40 triệu (11–50) · 40–80 triệu (51–100) · 80–120 triệu (101–300) · 120–150 triệu (từ 301 NLĐ) |
| Thực hiện thời giờ làm việc bình thường quá số giờ quy định; huy động làm thêm giờ mà không được sự đồng ý của người lao động | Khoản 3 Điều 24 | 40–50 triệu |
| Vi phạm quy định về nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết | Khoản 2 Điều 24 | 20–40 triệu |
| Không thông báo bằng văn bản cho Sở Nội vụ về việc tổ chức làm thêm từ trên 200 đến 300 giờ trong một năm; không bảo đảm nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương | Khoản 1 Điều 24 | 4–10 triệu |
Với một doanh nghiệp có từ 301 lao động trở lên bị kết luận huy động làm thêm giờ vượt trần, khung phạt áp dụng là 120–150 triệu đồng. Khoản tiền này chưa bao gồm nghĩa vụ trả đủ tiền lương làm thêm giờ và lãi phát sinh theo Điều 23 nếu phần giờ vượt trần đồng thời chưa được thanh toán đúng.
Đáng chú ý hơn với ngành may: vi phạm giới hạn làm thêm giờ hiếm khi là lỗi đơn lẻ. Nó thường kéo theo sai lệch hồ sơ thời giờ làm việc, sai sót trong tính lương làm thêm và chênh lệch căn cứ đóng bảo hiểm xã hội — mỗi yếu tố là một hành vi độc lập, và theo khoản 4 Điều 7 thì bị xử phạt về từng hành vi.
Nhóm 2 — Tiền lương, phụ cấp và bảo hiểm xã hội
Số liệu về đánh giá tuân thủ cho thấy rất ít nhà máy vi phạm về trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Các vi phạm phổ biến trong nhóm vấn đề này là các khoản phụ cấp và khoản bổ sung không được đưa đầy đủ vào căn cứ tính các quyền lợi dựa trên lương, gồm tiền lương làm thêm giờ, tiền lương ngày nghỉ hằng năm và mức đóng bảo hiểm xã hội. Vì lý do đó, tiền lương và bảo hiểm xã hội nên được rà soát cùng nhau chứ không tách rời.
| Hành vi | Căn cứ | Khung phạt với doanh nghiệp |
|---|---|---|
| Không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo hợp đồng; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ, lương làm việc ban đêm, lương ngừng việc; khấu trừ lương không đúng quy định; không trả đủ lương những ngày chưa nghỉ hằng năm khi chấm dứt hợp đồng | Khoản 2 Điều 23 | 10–20 triệu (01–10 NLĐ) · 20–40 triệu (11–50) · 40–60 triệu (51–100) · 60–80 triệu (101–300) · 80–100 triệu (từ 301 NLĐ) |
| Trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định | Khoản 3 Điều 23 | 40–60 triệu (01–10 NLĐ) · 60–100 triệu (11–50) · 100–150 triệu (từ 51 NLĐ) |
| Không công bố công khai thang lương, bảng lương, mức lao động, quy chế thưởng; không xây dựng thang lương, bảng lương hoặc định mức lao động; không thông báo bảng kê trả lương hoặc thông báo không đúng quy định; không tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động khi xây dựng | Khoản 1 Điều 23 | 10–20 triệu |
| Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, gồm: không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn; đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định; không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký | Điều 44 | 18–20% tổng số tiền trốn đóng, tối đa 150 triệu; kèm nghĩa vụ đóng đủ số tiền trốn đóng và nộp thêm 0,03%/ngày |
| Không đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động cho người lao động khi nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội | Khoản 2 Điều 12 | 10–20 triệu (01–50 NLĐ) · 20–30 triệu (51–100) · 30–40 triệu (từ 101 NLĐ) |
| Không trả hoặc trả không đủ cùng kỳ trả lương khoản tiền tương đương mức đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động không thuộc đối tượng tham gia bắt buộc | Khoản 4 Điều 23 | 6–10 triệu (01–10 NLĐ) → 30–40 triệu (từ 301 NLĐ) |
Cần lưu ý cấu trúc pháp lý của lỗi phụ cấp. Nghị định 283 không có một điều khoản riêng đặt tên cho hành vi “không đưa phụ cấp vào căn cứ tính quyền lợi”. Thay vào đó, hậu quả pháp lý phát sinh đồng thời ở hai nơi: khoản 2 Điều 23 (trả không đủ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương ngày nghỉ) và Điều 44 (đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp hơn quy định được xác định là hành vi trốn đóng). Một sai sót duy nhất trong cấu trúc lương do đó tạo ra hai hành vi vi phạm riêng biệt, với hai chế tài xử lý khác nhau.
Nhóm 3 — An toàn, vệ sinh lao động
Nhóm này chiếm phần lớn số lượng phát hiện trong các cuộc đánh giá nhà máy may, tập trung ở phương tiện bảo vệ cá nhân, huấn luyện an toàn cho nhóm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt, bộ phận y tế cơ sở, khám sức khỏe định kỳ, đánh giá rủi ro và an toàn điện. Nghị định 283 dành trọn Mục 3 Chương II cho lĩnh vực này.
| Hành vi | Căn cứ | Khung phạt với doanh nghiệp |
|---|---|---|
| Không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định; sử dụng người lao động không được cấp thẻ an toàn làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt | Khoản 1 Điều 36 | 10–20 triệu (01–10 người) → 80–100 triệu (từ 301 người) |
| Không trang cấp hoặc trang cấp không đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, hoặc trang cấp không đạt chất lượng; không thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật hoặc trả tiền thay hiện vật | Khoản 8 Điều 33 | 6–12 triệu (01–10 NLĐ) → 40–60 triệu (từ 301 NLĐ) |
| Không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp | Khoản 2 Điều 33 | 2–6 triệu/người lao động, tối đa 150 triệu |
| Không tổ chức nhận diện, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc; không có biển cảnh báo, bảng chỉ dẫn bằng tiếng Việt; không thông tin cho người lao động về yếu tố nguy hiểm, có hại | Khoản 5 Điều 33 | 20–30 triệu |
| Không xây dựng kế hoạch và triển khai đánh giá nguy cơ rủi ro về ATVSLĐ đối với cơ sở có nguy cơ cao | Khoản 6 Điều 33 | 30–40 triệu |
| Vi phạm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động | Khoản 9 Điều 33 | 50–80 triệu |
| Không bố trí bộ phận hoặc người làm công tác ATVSLĐ, người làm công tác y tế hoặc không ký hợp đồng với cơ sở khám chữa bệnh đủ năng lực; không bố trí đủ lực lượng sơ cứu, cấp cứu; không huấn luyện lực lượng sơ cứu | Khoản 2 Điều 32 | 10–20 triệu |
| Không định kỳ kiểm tra, bảo dưỡng máy, thiết bị, nhà xưởng; không trang bị thiết bị an toàn tại nơi làm việc; không xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; không bảo đảm đủ buồng tắm, buồng vệ sinh; không điều tra, khai báo tai nạn lao động | Khoản 3 Điều 32 | 40–50 triệu |
| Không kiểm định trước khi đưa vào sử dụng hoặc không kiểm định định kỳ máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ | Khoản 4 Điều 35 | 40–60 triệu (01–03 thiết bị) → 150 triệu (từ 21 thiết bị) |
| Không tiến hành quan trắc môi trường lao động để kiểm soát tác hại đối với sức khỏe người lao động | Khoản 3 Điều 38 | 40–80 triệu |
Một điểm đáng chú ý tại khoản 10 Điều 33: hành vi buộc người lao động phải làm việc, không được rời khỏi nơi làm việc, hoặc tiếp tục làm việc khi có nguy cơ tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng sức khỏe, tính mạng mà chưa được khắc phục bị phạt từ 60 đến 80 triệu đồng đối với doanh nghiệp.
Nhóm 4 — Nội quy lao động, hồ sơ lao động và đối thoại
Nhóm này có chi phí khắc phục thấp nhất nhưng tần suất phát hiện lại cao, và thường là nơi bộc lộ sớm các vấn đề thuộc ba nhóm phía trên. Hồ sơ lao động không đầy đủ hoặc không phản ánh đúng thực tế làm suy giảm khả năng chứng minh tuân thủ của doanh nghiệp trước cả cơ quan thanh tra lẫn đoàn đánh giá.
| Hành vi | Căn cứ | Khung phạt với doanh nghiệp |
|---|---|---|
| Không có nội quy lao động bằng văn bản khi sử dụng từ 10 lao động trở lên; không đăng ký nội quy lao động; sử dụng nội quy chưa có hiệu lực hoặc đã hết hiệu lực; xử lý kỷ luật không đúng trình tự, thủ tục, thời hiệu | Khoản 2 Điều 25 | 10–20 triệu |
| Không thông báo nội quy lao động đến toàn bộ người lao động hoặc không niêm yết nội dung chính tại nơi làm việc | Khoản 1 Điều 25 | 2–6 triệu |
| Dùng hình thức phạt tiền hoặc cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động; xử lý kỷ luật với hành vi không được quy định trong nội quy lao động | Khoản 3 Điều 25 | 40–80 triệu |
| Giao kết hợp đồng lao động không đầy đủ các nội dung chủ yếu; giao kết không đúng loại hợp đồng; không giao kết bằng văn bản với công việc có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên | Khoản 1 Điều 15 | 4–10 triệu (01–10 NLĐ) → 40–50 triệu (từ 301 NLĐ) |
| Không lập sổ quản lý lao động, lập không đúng thời hạn hoặc không bảo đảm nội dung cơ bản; không báo cáo tình hình thay đổi về lao động | Khoản 2 Điều 11 | 10–20 triệu |
| Không thể hiện, nhập đầy đủ thông tin người lao động vào sổ quản lý lao động; không xuất trình sổ quản lý lao động khi được yêu cầu | Khoản 1 Điều 11 | 2–6 triệu |
| Không tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc; không thực hiện đối thoại khi có yêu cầu; không phối hợp tổ chức hội nghị người lao động; không xây dựng, ban hành quy chế dân chủ ở cơ sở; không công khai nội dung chính của đối thoại | Điều 21 | 10–20 triệu |
| Không cho lao động nữ nghỉ 30 phút mỗi ngày trong thời gian hành kinh; không cho lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi nghỉ 60 phút mỗi ngày | Khoản 2 Điều 26 | 20–40 triệu, kèm buộc trả tiền lương tương ứng thời gian không được nghỉ |
Khuyến nghị cho Doanh nghiệp
Góc nhìn tuân thủ chuỗi cung ứng. Bốn nhóm lỗi được phân tích ở trên đồng thời nằm trong bộ tiêu chí đánh giá của hầu hết nhãn hàng may mặc quốc tế và trong phạm vi thẩm định chuỗi cung ứng tại thị trường nhập khẩu. Việc chuẩn hóa hồ sơ tuân thủ — ở nhà máy chính và ở toàn bộ mạng lưới nhà thầu phụ — không chỉ là đáp ứng yêu cầu pháp lý trong nước, mà còn góp phần xây dựng chuỗi cung ứng có trách nhiệm, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
RBV đồng hành với doanh nghiệp Việt trên con đường thúc đẩy Thực hành kinh doanh có trách nhiệm và hội nhập bền vững
Rà soát tuân thủ pháp luật lao động, nâng cao năng lực cải tiến bền vững, xây dựng kế hoạch khắc phục theo từng nhóm điều khoản cho nhà máy và mạng lưới nhà thầu phụ.
Nguồn tham khảo
-
- Nghị định 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng — toàn văn
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ — Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, BHXH
- LuatVietnam — Điểm mới của Nghị định 283/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính lao động, bảo hiểm
Bài viết được biên soạn nhằm mục đích thông tin và tham khảo, không cấu thành ý kiến tư vấn pháp lý cho một trường hợp cụ thể. Các mức phạt được trình bày theo mức áp dụng đối với tổ chức, tương ứng 02 lần mức ghi trong Nghị định theo khoản 1 Điều 7. Doanh nghiệp nên đối chiếu trực tiếp với toàn văn Nghị định và tham vấn chuyên môn trước khi ra quyết định.